Chuyên mục tin học
Top 10 PCGuide
Tuần Tháng Năm
1 bunbuongbinh 136
2 mayphuoc 72
3 dienlanh 43
4 bachkhoaso1 14
5 myngoc2012 8
6 quangminhz 4
7 bachkhoach 4
8 viera 2
9 cachiu 2
10 pdt686979 1
cập nhật lúc 04:38 ngày 23/07
Sự kiện Intel
Intel Vietnam

Promote Your Page Too
Cache là gì vậy mấy anh?
spamvip
Bài viết: 1
Ngày gởi: 13/06/2009 | Số lần xem: 10166 | Trả lời: 16
Giới thiệu bạn bè
cache là j vậy mấy anh /
10
PTS
Câu trả lời hay:
Chưa có
Báo cáo vi phạm
2
Bài viết đã bị đóng.

Câu Trả lời hay  
vanhkhuyen
Bài viết: 1216
Ngày gởi: 27/06/2009 02:39 PM
Cache là bộ nhớ đệm, nơi lưu trử dử liệu tạm thời trước khi nó đi vào thiết bị như CPU, ổ cứng,...
để bạn dể hình dung mình nói gọn thế này nha, khi bạn copy dử liệu từ USb hoặc CD/DVD vào ổ cứng, trước khi vào ổ cứng, nó được nằm trong Cache, sau đó nó mới được đưa vào ổ cứng. Khi bạn mở 1 bài nhạc hoặc chạy 1 file nào đó nằm trên ổ cứng thì bài nhạc và cái file đó được copy từ ổ cứng lên RAM rồi từ RAM nó mới được đưa lên Cache của CPU rồi mới vào CPU chứ không đi thẳng được từ ổ cứng lên CPU.
Từ những điều đó bạn sẽ thấy, nếu cache càng lớn thì càng có lợi hơn cho tốc độ của cpu, ổ cứng,... vì nếu cache nhỏ quá, dử liệu sẽ bị trì trễ vì phải đợi. nó giống như cái cửa vậy, bạn muốn vào nhà bạn fải qua cửa, nếu của quá hẹp thì ngừoi ta sẽ bị kẹt nhiều ở cửa.
Báo cáo vi phạm
1 bình chọn bài hay
Câu Trả lời hay  
adsducduy
Bài viết: 41
Ngày gởi: 24/06/2009 01:16 PM
Cache là bộ nhớ đệm của CPU,cache nằm trong CPU ngay cạnh lõi xử lý .CPU muốn đọc hay ghi một vị trí trên Ram thì trước hết nó sẽ tìm trong L1 cache xem có sẵn dữ liệu đó không nếu không nó sẽ tìm trong các bộ nhớ cache còn lại .Cache giúp giảm tình trạng thắt nút cổ chai giữa RAM và CPU.

Khi nghe giới thiệu về CPU, bạn ắt biết tới các thuật ngữ L1 Cache, L2 Cache, L3 Cache.

Cache  là tên gọi của bộ nhớ đệm – nơi lưu trữ các dữ liệu nằm chờ các ứng dụng hay phần cứng xử lý.Mục đích của nó là để tăng tốc độ xử lý (có sẵn xài liền không cần tốn thời gian đi lùng sục tìm kéo về).


Nói một cách bài bản, cache là một cơ chế lưu trữ tốc độ cao đặc biệt. Nó có thể là một vùng lưu trữ của bộ nhớ chính hay một thiết bị lưu trữ tốc độ cao độc lập.Có hai dạng lưu trữ cache được dùng phổ biến trong máy tính cá nhân là memory caching (bộ nhớ cache hay bộ nhớ truy xuất nhanh) và disk caching (bộ nhớ đệm đĩa).

* Memory cache: Đây là một khu vực bộ nhớ được tạo bằng bộ nhớ tĩnh (SRAM) có tốc độ cao nhưng đắt tiền thay vì bộ nhớ động (DRAM) có tốc độ thấp hơn và rẻ hơn, được dùng cho bộ nhớ chính. Cơ chế lưu trữ bộ nhớ cahce này rất có hiệu quả. Bởi lẽ, hầu hết các chương trình thực tế truy xuất lặp đi lặp lại cùng một dữ liệu hay các lệnh y chang nhau. Nhờ lưu trữ các thông tin này trong SRAM, máy tính sẽ khỏi phải truy xuất vào DRAM vốn chậm chạp hơn.Một số bộ nhớ cache được tích hợp vào trong kiến trúc của các bộ vi xử lý. Chẳng hạn, CPU Intel đời 80486 có bộ nhớ cache 8 KB, trong khi lên đời Pentium là 16 KB. Các bộ nhớ cache nội (internal cache) như thế gọi là Level 1 (L1) Cache (bộ nhớ đệm cấp 1). Các máy tính hiện đại hơn thì có thêm bộ nhớ cache ngoại (external cache) gọi là Level 2 (L2) Cache (bộ nhớ đệm cấp 2). Các cache này nằm giữa CPU và bộ nhớ hệ thống DRAM. Sau này, do nhu cầu xử lý nặng hơn và với tốc độ nhanh hơn, các máy chủ (server), máy trạm (workstation) và mới đây là CPU Pentium 4 Extreme Edition được tăng cường thêm bộ nhớ đệm L3 Cache.

* Disk cache: Bộ nhớ đệm đĩa cũng hoạt động cùng nguyên tắc với bộ nhớ cache, nhưng thay vì dùng SRAM tốc độ cao, nó lại sử dụng ngay bộ nhớ chính. Các dữ liệu được truy xuất gần đây nhất từ đĩa cứng sẽ được lưu trữ trong một buffer (phần đệm) của bộ nhớ. Khi chương trình nào cần truy xuất dữ liệu từ ổ đĩa, nó sẽ kiểm tra trước tiên trong bộ nhớ đệm đĩa xem dữ liệu mình cần đang có sẵn không. Cơ chế bộ nhớ đệm đĩa này có công dụng cải thiện một cách đáng ngạc nhiên sức mạnh và tốc độ của hệ thống. Bởi lẽ, việc truy xuất 1 byte dữ liệu trong bộ nhớ RAM có thể nhanh hơn hàng ngàn lần nếu truy xuất từ một ổ đĩa cứng. Sẵn đây, xin nói thêm, người ta dùng thuật ngữ cache hit để chỉ việc dữ liệu được tìm thấy trong cache. Và hiệu năng của một cache được tính bằng hit rate (tốc độ tìm thấy dữ liệu trong cache). Trở lại chuyện bộ nhớ cache. Hồi thời Pentium đổ về trước, bộ nhớ cache nằm trên mainboard và một số mainboard có chừa sẵn socket để người dùng có thể gắn thêm cache khi có nhu cầu. Tới thế hệ Pentium II, Intel phát triển được công nghệ đưa bộ nhớ cache vào khối CPU. Nhờ nằm chung như vậy, tốc độ truy xuất cache tăng lên rõ rệt so với khi nó nằm trên mainboard. Nhưng do L2 Cache vẫn phải ở ngoài nhân CPU nên Intel phải chế ra một bo mạch gắn cả nhân CPU lẫn L2 Cache. Và thế là CPU có hình dạng to đùng như một cái hộp (gọi là cartridge) và được gắn vào mainboard qua giao diện slot (khe cắm), Slot 1. Tốc độ truy xuất cache lúc đó chỉ bằng phân nửa tốc độ CPU. Thí dụ, CPU 266 MHz chỉ có tốc độ L2 Cache là 133 MHz. Sang Pentium III cũng vậy. Mãi cho tới thế hệ Pentium III Coppermine (công nghệ 0.18-micron), Intel mới thành công trong việc tích hợp ngay L2 Cache vào nhân chip (gọi là on-die cache). Lúc đó, tốc độ L2 Cache bằng với tốc độ CPU và con CPU được thu gọn lại, đóng gói với giao diện Socket 370.


Như đã nói, dung lượng của Cache CPU lợi hại lắm nghen. Phổ biến nhất là L2 Cache là một chip nhớ nằm giữa L1 Cache ngay trên nhân CPU và bộ nhớ hệ thống. Khi CPU xử lý, L1 Cache sẽ tiến hành kiểm tra L2 Cache xem có dữ liệu mình cần không trước khi truy cập vào bộ nhớ hệ thống. Vì thế, bộ nhớ đệm càng lớn, CPU càng xử lý nhanh hơn. Đó là lý do mà Intel bên cạnh việc tăng xung nhịp cho nhân chíp, còn chú ý tới việc tăng dung lượng bộ nhớ Cache. Do giá rất đắt, nên dung lượng Cache không thể tăng ồ ạt được. Bộ nhớ cache chính L1 Cache vẫn chỉ ở mức từ 8 tới 32 KB. Trong khi, L2 Cache thì được đẩy lên dần tới hiện nay cao nhất là Pentium M Dothan 2 MB (cho máy tính xách tay) và Pentium 4 Prescott 1 MB (máy để bàn). Riêng dòng CPU dành cho dân chơi game và dân multimedia “prồ” là Pentium 4 Extreme Edition còn được bổ sung L3 Cache với dung lượng 2 MB. Đây cũng là CPU để bàn có tổng bộ nhớ cache lớn nhất (L1: 8 KB, L2: 512 KB, L3: 2 MB).
Báo cáo vi phạm
1 bình chọn bài hay
Câu Trả lời hay  
victorjr
Bài viết: 495
Ngày gởi: 13/06/2009 04:50 PM
Cache theo nghĩa thông thường như sau:
danh từ

   * nơi giấu, nơi trữ (lương thực, đạn dược... nhất là các nhà thám hiểm để dùng sau này)
         o to make a cache
           xây dựng nơi trữ

   * lương thực, vật dụng giấu kín

   * thức ăn dự trữ (của động vật qua đông)


ngoại động từ

   * giấu kín, trữ
Còn trong CPU thì nó là bộ nhớ đệm. Bạn muốn tìm hiểu rõ hơn thì vào đây tham khảo nha http://www.pcgu...e.htm
Báo cáo vi phạm
1 bình chọn bài hay
Câu Trả lời hay  
txquang
Bài viết: 741
Ngày gởi: 13/06/2009 11:27 AM
CACHE:
Danh từ: nơi giấu, nơi trữ...
Động từ: giấu kín, trữ...
Trong tin học: vùng đệm
cache memory: bộ nhớ cache, bộ nhớ đệm, bộ nhớ truy cập nhanh
- là một khối bộ nhớ
- lưu trữ những dữ liệu được dùng thường xuyên hay đang chờ những tiến trình khác sử dụng
- mục đích: làm tăng tốc độ xử lý của hệ thống
- ưu điểm: có tốc độ truy xuất rất nhanh (> RAM > HDD)
- khuyết điểm: dung lượng nhỏ, đắt tiền
...
Cache có nhiều loại:
- CPU cache
- Disk cache
- Web cache
- ...
Bạn có thể tìm hiểu thêm ở đây: http://www.pcgu...Cache
Báo cáo vi phạm
1 bình chọn bài hay
Bài phản hồi
Thanks bác em cũng đang muốn biết cái này!!
Câu Trả lời hay  
tuanvukt
Bài viết: 269
Ngày gởi: 13/06/2009 03:59 AM
cache là bộ nhớ đệm
Báo cáo vi phạm
1 bình chọn bài hay
Câu Trả lời
thienhavodoi
Bài viết: 570
Ngày gởi: 29/08/2010 11:22 PM
Cache (đọc là kets, hay còn gọi là cạc) là tên gọi của bộ nhớ đệm – nơi lưu trữ các dữ liệu nằm chờ các ứng dụng hay phần cứng xử lý.Mục đích của nó là để tăng tốc độ xử lý (có sẵn xài liền không cần tốn thời gian đi lùng sục tìm kéo về).


Nói một cách bài bản, cache là một cơ chế lưu trữ tốc độ cao đặc biệt. Nó có thể là một vùng lưu trữ của bộ nhớ chính hay một thiết bị lưu trữ tốc độ cao độc lập.Có hai dạng lưu trữ cache được dùng phổ biến trong máy tính cá nhân là memory caching (bộ nhớ cache hay bộ nhớ truy xuất nhanh) và disk caching (bộ nhớ đệm đĩa).

* Memory cache: Đây là một khu vực bộ nhớ được tạo bằng bộ nhớ tĩnh (SRAM) có tốc độ cao nhưng đắt tiền thay vì bộ nhớ động (DRAM) có tốc độ thấp hơn và rẻ hơn, được dùng cho bộ nhớ chính. Cơ chế lưu trữ bộ nhớ cahce này rất có hiệu quả. Bởi lẽ, hầu hết các chương trình thực tế truy xuất lặp đi lặp lại cùng một dữ liệu hay các lệnh y chang nhau. Nhờ lưu trữ các thông tin này trong SRAM, máy tính sẽ khỏi phải truy xuất vào DRAM vốn chậm chạp hơn.Một số bộ nhớ cache được tích hợp vào trong kiến trúc của các bộ vi xử lý. Chẳng hạn, CPU Intel đời 80486 có bộ nhớ cache 8 KB, trong khi lên đời Pentium là 16 KB. Các bộ nhớ cache nội (internal cache) như thế gọi là Level 1 (L1) Cache (bộ nhớ đệm cấp 1). Các máy tính hiện đại hơn thì có thêm bộ nhớ cache ngoại (external cache) gọi là Level 2 (L2) Cache (bộ nhớ đệm cấp 2). Các cache này nằm giữa CPU và bộ nhớ hệ thống DRAM. Sau này, do nhu cầu xử lý nặng hơn và với tốc độ nhanh hơn, các máy chủ (server), máy trạm (workstation) và mới đây là CPU Pentium 4 Extreme Edition được tăng cường thêm bộ nhớ đệm L3 Cache.

* Disk cache: Bộ nhớ đệm đĩa cũng hoạt động cùng nguyên tắc với bộ nhớ cache, nhưng thay vì dùng SRAM tốc độ cao, nó lại sử dụng ngay bộ nhớ chính. Các dữ liệu được truy xuất gần đây nhất từ đĩa cứng sẽ được lưu trữ trong một buffer (phần đệm) của bộ nhớ. Khi chương trình nào cần truy xuất dữ liệu từ ổ đĩa, nó sẽ kiểm tra trước tiên trong bộ nhớ đệm đĩa xem dữ liệu mình cần đang có sẵn không. Cơ chế bộ nhớ đệm đĩa này có công dụng cải thiện một cách đáng ngạc nhiên sức mạnh và tốc độ của hệ thống. Bởi lẽ, việc truy xuất 1 byte dữ liệu trong bộ nhớ RAM có thể nhanh hơn hàng ngàn lần nếu truy xuất từ một ổ đĩa cứng. Sẵn đây, xin nói thêm, người ta dùng thuật ngữ cache hit để chỉ việc dữ liệu được tìm thấy trong cache. Và hiệu năng của một cache được tính bằng hit rate (tốc độ tìm thấy dữ liệu trong cache). Trở lại chuyện bộ nhớ cache. Hồi thời Pentium đổ về trước, bộ nhớ cache nằm trên mainboard và một số mainboard có chừa sẵn socket để người dùng có thể gắn thêm cache khi có nhu cầu. Tới thế hệ Pentium II, Intel phát triển được công nghệ đưa bộ nhớ cache vào khối CPU. Nhờ nằm chung như vậy, tốc độ truy xuất cache tăng lên rõ rệt so với khi nó nằm trên mainboard. Nhưng do L2 Cache vẫn phải ở ngoài nhân CPU nên Intel phải chế ra một bo mạch gắn cả nhân CPU lẫn L2 Cache. Và thế là CPU có hình dạng to đùng như một cái hộp (gọi là cartridge) và được gắn vào mainboard qua giao diện slot (khe cắm), Slot 1. Tốc độ truy xuất cache lúc đó chỉ bằng phân nửa tốc độ CPU. Thí dụ, CPU 266 MHz chỉ có tốc độ L2 Cache là 133 MHz. Sang Pentium III cũng vậy. Mãi cho tới thế hệ Pentium III Coppermine (công nghệ 0.18-micron), Intel mới thành công trong việc tích hợp ngay L2 Cache vào nhân chip (gọi là on-die cache). Lúc đó, tốc độ L2 Cache bằng với tốc độ CPU và con CPU được thu gọn lại, đóng gói với giao diện Socket 370.
Báo cáo vi phạm
0 bình chọn bài hay
Câu Trả lời
Rongconvn
Bài viết: 1689
Ngày gởi: 11/07/2009 11:19 AM
cache là bộ nhớ đệm cho cpu, hdd và 1 số thành phần khác, cache dùng để tăng tốc độ truy xuất dữ liệu júp máy tính chạy nhanh hơn
Báo cáo vi phạm
0 bình chọn bài hay
Câu Trả lời
nguyenchithu
Bài viết: 121
Ngày gởi: 11/07/2009 04:04 AM
cache là bộ nhớ đệm của CPU có dung lượng cao nhất hiện nay  là 12Mb thui àh, bạn hiểu nó như là cái bình xăng con của xe máy đó thui àh, nó nằm bênh cạnh nhân của CPU
Báo cáo vi phạm
0 bình chọn bài hay
Câu Trả lời
dancanh90
Bài viết: 286
Ngày gởi: 26/06/2009 01:48 PM
-Cache là bộ nhớ đệm của CPU,cache nằm trong CPU ngay cạnh lõi xử lý .CPU muốn đọc hay ghi một vị trí trên Ram thì trước hết nó sẽ tìm trong L1 cache xem có sẵn dữ liệu đó không nếu không nó sẽ tìm trong các bộ nhớ cache còn lại .Cache giúp giảm tình trạng thắt nút cổ chai giữa ram và cpu
Báo cáo vi phạm
0 bình chọn bài hay
Câu Trả lời
sycobart
Bài viết: 854
Ngày gởi: 15/06/2009 07:56 PM
Hiểu đơn giản cache là một loại Ram đặc biệt, có tốc độ và vị trí khác Ram. Cache trước đây còn đặt trên mainboard với khe cắm riêng, hiện nay cache được tích hợp vào bộ xử lý. Cache có hai mức là L1 (bên trong bộ vxl) và L2 (trong hoặc ngoài chip, nếu ngoài thì rất gần chip, thường chạy với một nửa xung nhịp bộ vxl). Vậy cache gần CPU hơn Ram nên nó hiệu quả hơn ram. Để hiểu thêm về cơ cấu làm việc của CPU với Ram, cache, ta xem cơ cấu tìm kiếm dữ liệu như thế nào: Khi cần tìm kiếm dữ liệu, CPU tìm dữ liệu đó trước hết ở cache L1, nếu không thấy nó quay ra tìm ở cache L2, lại không thấy nữa thì tìm trên Ram, và vẫn không thấy, thất vọng quá nó đành tìm trên đĩa cứng. Như vậy cache càng lớn, Ram càng lớn thì dữ liệu được chuyển vào dần bên trong gần CPU hơn và thế nên CPU không phải chờ mỗi khi cần tìm kiếm một dữ liệu mới nên xử lý liên tục – khi đó chương trình của ta chạy nhanh hơn. Tuy nhiên không phải chip nào cũng có cache, và chúng có kích thước, tần số làm việc khác nhau theo từng loại chip.
Báo cáo vi phạm
0 bình chọn bài hay
Câu Trả lời
vietk3y
Bài viết: 22
Ngày gởi: 14/06/2009 08:41 PM
Cache <trong CPU> là bộ nhớ đệm
Báo cáo vi phạm
0 bình chọn bài hay
Câu Trả lời
spypossible
Bài viết: 249
Ngày gởi: 13/06/2009 12:46 PM
-Cache là bộ nhớ đệm của CPU,cache nằm trong CPU ngay cạnh lõi xử lý .CPU muốn đọc hay ghi một vị trí trên Ram thì trước hết nó sẽ tìm trong L1 cache xem có sẵn dữ liệu đó không nếu không nó sẽ tìm trong các bộ nhớ cache còn lại hoặc là ổ cứng .
-Cache giúp xử lý dữ liệu nhanh hơn và chống tràn bộ nhớ khi CPU bị quá tải
Báo cáo vi phạm
0 bình chọn bài hay
Câu Trả lời
Rongconvn
Bài viết: 1689
Ngày gởi: 13/06/2009 11:19 AM
đơn giản nó là bộ nhớ đệm, dùng để trung chuyển thông tin giữa cpu và các thành phần khác
Báo cáo vi phạm
0 bình chọn bài hay

ˆ Lên đầu trang